Hiển thị các bài đăng có nhãn Phật Giáo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phật Giáo. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 10 tháng 11, 2014

SỰ LỢI ÍCH CỦA THIỀN

Posted by Unknown 13:02

Thiền có vô số lợi ích, bài viết ngắn này chỉ giới thiệu vài sự diệu dụng của Thiền mà mỗi người nên biết, nếu muốn có một cuộc sống khỏe mạnh và hạnh phúc hơn.
Thiền góp phần chữa được nhiều thứ bệnh, nhất là các bệnh thuộc loại tim mạch và hệ thống hô hấp… Tại sao?

Y giới, nhất là qua sự khám phá của Bs.Herbert Benson, Đại học Harvard, Mỹ, cho thấy, có từ 60-90 % bệnh tật sinh ra là do căng thẳng, mà Thiền có khả năng làm giảm căng thẳng nên Thiền có khả năng trị bệnh.

1. Tại sao con người bị căng thẳng? 

- Vì giận hờn, lo âu, sợ hải, buồn phiền ...Lúc giận, lo, sợ…tim đập nhanh hơn, phổi thở nhiều hơn, lượng đường trong máu gia tăng, áp huyết lên cao, bao tử ăn không tiêu. Vì sao có các triệu chứng này?

- Lúc căng thẳng, cơ thể tiết ra hai chất hóa học cực mạnh (có tên là norepinephrine & epinephrine) để cân bằng sự vận hành của cơ thể vật lý. Nếu tình trạng căng thẳng cứ kéo dài nhiều năm tháng, thì bệnh tật sẽ sinh ra là điều khó tránh khỏi.

Bình thường, nhịp đập của tim là 80 lần một phút. Lúc căng thẳng, mỗi phút tim đập, có lúc, trên 100 lần.

Thí dụ, để chữa trị chứng tim đập quá nhanh. Bệnh nhân đến phòng mạch, bác sĩ cho thuốc để nhịp đập của tim được trở lại bình thường. Nhưng thuốc phải tốn tiền, có thể bị phản ứng phụ. Nếu quen thuốc, bác sĩ sẽ cho thuốc khác. Cứ thế, người bệnh bị nô lệ thuốc lâu dài nếu tình trạng căng thẳng vẫn tiếp diễn. Trường hợp này, chữa bằng thuốc là chữa cái ngọn chứ không phải chữa cái gốc. Căng thẳng là gốc của bệnh tật, vẫn còn tồn tục.

Do vậy, nếu áp dụng Thiền vào trị liệu. Thiền có khả năng làm giảm căng thẳng. Do đó, cơ thể có cơ hội trở lại bình thường mà không cần đến thuốc, bệnh tật sẽ được ổn định.

2. Làm thế nào để biết Thiền có thể làm giảm căng thẳng?

- Máy cộng hưởng từ (fMRI) được sử dụng để chụp hình não bộ lúc người thực hành Thiền, như hình dưới đây:



 Lúc Thiền, định được tâm, vùng liên hệ đến sự tập trung chú ý (self-awareness), phía trên bộ não, tăng trưởng làm cho con người dễ tập trung thay vì nghĩ lung tung. Vùng thứ hai liên hệ đến an lạc vui vẻ, yêu đời (compassion) cũng được gia tăng, con người cảm thấy nhẹ nhàng an lạc thay vì chán nản giận hờn lo âu, cau có. Và đặc biệt hơn là, vùng thứ ba liên hệ đến căng thẳng (stress) bị teo nhỏ lại. Lúc con người không bị cẳng thẳng hay có rất ít căng thẳng thì sẽ không có hoặc có rất ít bệnh tật.

Chúng ta cũng cần biết thêm, các cơ phận của con người được cấu tạo bởi các tế bào quấn lại với nhau gọi là nhiễm sắc thể (chromosomes) phần màu xám (xem hình bên dưới). Hai đầu được bọc bởi chất Telomeres để bảo vệ nhiễm sắc thể khỏi bị hư hại. Nếu con người bị căng thẳng, phần Telomeres sẽ ngắn dần. Điều nầy báo hiệu tuổi già bắt đầu và bệnh sắp xẩy ra. Thiền có khả năng làm cho chất telomerase tăng trưởng, chất nầy góp phần tái tạo để chất Telomeres dài trở lại.


 Trong bài “Làm sao mà Thiền có thể thay đổi bộ não.” Máy chụp cộng hưởng từ (fMRI) cũng cho thấy, thiền thay đổi não bộ làm gia tăng chất xám trong vùng hải mã (the hippocampus) là vùng quan trọng làm cải tiến việc học và gia tăng trí nhớ (learning and memory).

 3. Thiền, làm sao thực hiện?

- Nên kiếm các tăng ni và phật tử nào am hiểu “Thiền sức khỏe” để nhờ hướng dẫn. Hoặc có thể theo 3 động tác chính sau đây:

a. Kiếm một chỗ ngồi thoải mái. Ngồi bán già hay kiết già thì tốt nhất. Nhưng ngồi hay nằm trên ghế, trên giường cũng được.

b. Ý nghĩ dõi theo sự hít vào và thở ra.

c. Nếu tâm chạy tán loạn, thì nhẹ nhàng đem tâm trở về với hơi thở.

Nếu mỗi ngày Thiền được vài chục phút thì bệnh tật sẽ giảm thiểu, người cảm thấy an lạc, hạnh phúc và yêu đời, sắc đẹp cũng được gia tăng vì Thiền làm cho cơ thể tiết ra các dưỡng chất lành mạnh như nitric oxide, chất endorphins, chất dopamine…

Các hóa chất này nuôi dưỡng các tế bào da làm cho da đỏ ửng hồng, khuôn mặt hiền, dễ thương, phúc hậu, thay vì buồn, nổi mụn và bị nám. Thiền làm gia tăng bạch huyết cầu, hệ miễn nhiễm mạnh có khả năng chống bệnh tật. Thiền còn giúp những người có bệnh hiếm muộn dễ có con, và góp phần trị các chứng bệnh của thời đại, chợ chưa đi mà tiền đã hết…

An vui thì khỏe mạnh, ưu phiền sẽ ốm đau. Phải chăng đó là “triết lý” sống của kiếp nhân sinh.

Chế độ ăn uống; nhiều rau, củ, quả, và đi bộ mỗi ngày vài chục phút, rất cần cho một cơ thể cường tráng ít bệnh tật. Thiền là một phương thuốc ngoại hạng của nhân thế mà không phải tốn tiền không cần xin phép hoặc tranh giành với ai.

Thiền có khả năng góp phần vào việc cải tiến xã hội, chữa trị bệnh tật, làm cho con người đẹp hơn, thông minh hơn, sống thọ và sống có hạnh phúc hơn mà không tốn cắc bạc nào. Tốn chăng, cần một cái gối để ngồi. Quá chừng rẻ.

Nếu Thiền vào bệnh viện, bệnh nhân sẽ chóng lành, ngân sách chi tiêu y tế quốc gia sẽ giảm. Thiền vào học đường, học sinh, sinh viên và giáo chức sẽ thông minh, mạnh khỏe và an lạc hơn. Thiền vào xí nghiệp, lợi nhuận của chủ và thợ gia tăng, chi phí bảo hiểm sức khỏe giảm.

Tổng quát, Thiền là thức ăn, là ngưồn sống, là dưỡng chất của con người trong tất cả các lứa tuổi và các ngành nghề của thế giới hiện nay. Tại Mỹ, 50% dân chúng thay lối chữa trị cũ bằng Thiền và Yoga. Việt Nam chúng ta, Thiền dường như vẫn còn ngủ chưa chịu vỗ cánh tung bay vào xã hội để phổ độ chúng sinh?!
                                   
Nguồn : PGVN-Hồng Quang

Thứ Năm, 7 tháng 3, 2013




1. Từ tình hình thực tế
Theo thống kê, dân số Việt Nam hiện nay hơn 83 triệu dân. Mặc dù chưa có sự khảo sát chính xác nhưng theo đánh giá chung, con số Phật tử Việt Nam hiện nay được xem là quá ít so với chiều dài lịch sử phát triển hàng ngàn năm của Phật giáo Việt Nam. Trong số những Phật tử Việt Nam, thật ra có bao nhiêu Phật tử là thanh thiếu niên? Từ thực tế khảo sát tình hình tu học, thính pháp, sinh hoạt tại các tự viện ở Việt Nam hiện nay, chúng ta cũng có thể thấy đại đa số Phật tử nằm ở độ tuổi trung lão niên, còn thanh thiếu niên Phật tử hiện nay tuy số lượng có tăng trong những năm gần đây; thế nhưng, so với tín đồ trẻ của các tôn giáo bạn thì con số đó chưa tương xứng với quá trình phát triển của một tôn giáo đã có mặt hơn 2.000 năm trên đất nước Việt Nam. Thực trạng đó là một nỗi ưu tư sâu đậm cho những ai quan tâm đến lứa tuổi thanh thiếu niên, và đây cũng là một niềm trăn trở của những người làm công tác hoằng pháp. Phải chăng vì Phật giáo quá cứng nhắc hay quá “già” đến nỗi giới trẻ không thể đến gần?
Thực chất, đạo Phật là đạo trí tuệ, giáo lý Phật giáo rất uyển chuyển linh động, có khả năng làm cho con người có sự năng động sáng tạo. Và tính năng động sáng tạo cũng là bản chất của giới trẻ. Vì vậy, cần phải khẳng định rằng Phật giáo rất “trẻ”, rất phù hợp và rất cần cho giới trẻ. Nhưng làm thế nào để giới trẻ tìm về với Phật giáo?

 2. Đi tìm những nguyên nhân
Trước hết, chúng ta thấy rằng tuy Phật giáo xem trọng đức tin, nhưng đức tin chỉ là một trong vô vàn cửa ngõ để vào đạo, và vấn đề đặt ra là tin như thế nào? Trong đạo Phật, nếu chỉ có đức tin thôi không đủ để làm cho con người giải thoát khỏi khổ đau mà việc thực hành giáo pháp để đưa tới giác ngộ giải thoát mới là điều thiết yếu của người theo Phật giáo. Giáo pháp của Đức Phật khuyên chúng ta “hãy đến để thấy”. Đức Phật khuyên chúng ta hãy thực hành giáo pháp của Ngài để thực nghiệm trạng thái an lạc giải thoát chứ không phải đứng nhìn giáo pháp từ xa với một niềm tin vô bổ. Đặc tính này rất phù hợp với tính hiếu kỳ, tính tự lập và tính thực tế của giới trẻ. Giới trẻ là những con người đang ở độ tuổi sung mãn, luôn muốn chứng minh mình có đủ khả năng để nghiên cứu tìm tòi, có đủ khả năng để tự tạo dựng cuộc sống của bản thân trong tương lai, và cũng có đủ khả năng để thay đổi vận mệnh đất nước. Tuổi trẻ không muốn đi theo một lối mòn, không muốn bị đúc khuôn mà luôn khám phá bản thân và thế giới xung quanh, muốn kiến tạo một cuộc sống mới. Vì vậy, giới trẻ chỉ tin vào những gì mang lại lợi ích thiết thực cho cuộc sống hiện tại mà không tin những gì mơ hồ huyền ảo. Đây cũng chính là tính chất thiết thực của Phật giáo.
Chính vì tính chất này mà đôi khi giới trẻ mải mê chạy theo cuộc sống vật chất mà quên đi yếu tố truyền thống đạo đức tâm linh. Đạo đức là nền tảng để xây dựng một con người. Một khi nền tảng bị lung lay thì làm sao có thể kiến tạo được con người rường cột cho xã hội? Và một khi bị khủng hoảng, giới trẻ sẽ không còn chỗ nương tựa vững chắc, đó chính là lý do hình thành tệ nạn trong xã hội, tiêu cực trong cuộc sống. Điều kiện sống của xã hội trong thời đại hưởng thụ vật chất như hiện nay thường kích thích các tâm lý xấu hơn là tâm lý tốt cho giới trẻ. Do vậy yêu cầu của Phật giáo là cần phải giáo dục giới trẻ có một trình độ hiểu biết, tư duy phân biệt rõ tốt xấu, hư thực và có khả năng kiểm soát các hành vi của chính mình bằng những bài pháp sinh động cụ thể và phù hợp với từng lứa tuổi.

3. Những kiến nghị
Để giới trẻ đến chùa, tìm tới Phật giáo thì Phật giáo phải giữ một vai trò thiết yếu không thể thiếu trong đời sống của giới trẻ. Muốn vậy, Phật giáo phải đáp ứng được các nhu cầu của giới trẻ. Mà muốn đáp ứng được các yêu cầu của giới trẻ thì phải hiểu rõ tâm tư tình cảm và nhu cầu của giới trẻ. Nhu cầu giới trẻ thay đổi tuỳ theo từng độ tuổi. Các nhà tâm lý học Liên Xô (cũ) đã nghiên cứu và kết luận rằng: “Ở mỗi giai đoạn lứa tuổi có một hoặc hai hoạt động chủ đạo giữ vai trò quyết định sự biến đổi tâm lý ở giai đoạn lứa tuổi đó”. Chẳng hạn: vui chơi là hoạt động của trẻ em ở tuổi mầm non; học tập là hoạt động chủ đạo của tuổi học sinh; lao động, tìm tòi khám phá là hoạt động của thanh niên v.v... Khi nắm rõ tâm sinh lý và nhu cầu của giới trẻ rồi, bước tiếp theo chúng ta cần phải đưa ra nhiều loại hình sinh hoạt Phật giáo phong phú và đa dạng, phù hợp với từng lứa tuổi để từ từ hướng giới trẻ đến với Phật giáo.
3.1 Về mặt giáo lý: đối với trẻ dưới 6 tuổi, không nên dạy giáo lý sớm cho chúng mà chỉ nên dạy các bé về lịch sử Đức Phật Thích Ca, các vị Thánh đệ tử Phật hay những câu chuyện tiền thân Đức Phật bằng tranh minh họa để các bé có ấn tượng sâu sắc về cuộc đời và hạnh nguyện của các Ngài. Đối với thanh thiếu niên, cần dạy cho chúng các giáo lý căn bản của Phật giáo như Nhân quả, Nghiệp báo, Luân hồi, Tứ đế, Duyên khởi, Bát chánh đạo v.v... để giới trẻ có cái nhìn về con người và thế giới theo quan điểm Phật giáo và thấy được những giá trị đạo đức thiết yếu trong mối quan hệ cuộc sống cá nhân với cộng đồng. Ngoài ra, kinh Thiện Sanh (bài kinh dạy về cách ứng xử trong quan hệ gia đình) cũng là bài pháp mà thanh niên cần được truyền trao để làm tư lương trong cuộc sống gia đình và xã hội.
3.2 Về vấn đề nghi thức, tụng kinh bái sám: để giới trẻ tham dự vào các khóa lễ Phật giáo, chúng ta không thể giữ nguyên nghi thức truyền thống chỉ ngồi tụng kinh gõ mõ đơn điệu. Các nghi thức, khóa lễ cần phải được đa dạng hóa, cần phải xen kẽ những bài nhạc lễ kết hợp với việc ngồi tịnh tâm hay đi kinh hành để tạo sự linh hoạt, tạo không khí trẻ trung nhưng không mất phần trang nghiêm trong nghi lễ.
3.3 Đa dạng hóa các chương trình tu học, sinh hoạt: Ngoài việc xây dựng các đạo tràng tụng kinh, niệm Phật hay các khóa tu như: Phật thất, Phật nhật, đạo tràng tu Bát quan trai, đạo tràng Đại Bi, đạo tràng Dược Sư, các khoá thiền v.v… để hướng dẫn Phật tử trẻ tu tập, thanh lọc tâm thức thì các mô hình sinh hoạt văn hóa Phật giáo cũng rất cần thiết như: các đội văn nghệ, các lớp nữ công gia chánh (cắm hoa, nấu ăn chay, thêu may), các lớp hội hoạ, thư pháp, chơi nhạc cụ v.v.. để giáo dục giới trẻ về thẩm mỹ văn hoá Phật giáo. Đây là những loại hình sinh hoạt rất quan trọng trong việc thu hút và đưa giới trẻ tới chùa.
Do giới trẻ sống trong môi trường xã hội hiện đại, bị bao phủ bởi sự chi phối của vi tính, điện tử hiện nay nên cũng chịu ảnh hưởng nhiều bởi môi trường sống này trong cách vui chơi, giải trí. Hiện nay, các bé trai có xu hướng thích chơi game online, thích xem phim hoạt hình bạo lực đấm đá, còn các bé gái thì thích lang thang trên mạng để tán gẫu hoặc tìm tòi khám phá những điều chưa biết. Dựa vào nhu cầu và thị hiếu này, Phật giáo chúng ta nên đầu tư sản xuất những bộ phim hoạt hình Phật giáo, truyện tranh hay những trò chơi game Phật giáo hoặc các video clip nhạc Phật giáo để giới trẻ vừa được giải trí vừa hấp thụ những giá trị tư tưởng văn hóa Phật giáo.
Nhu cầu chung của thanh thiếu niên là học nhưng phải được chơi. Do đó, để giới trẻ đến chùa “tu mà vẫn được chơi, chơi mà vẫn có tu” thì cần phải có những buổi tu học dã ngoại, cắm trại kết hợp với thi kiến thức Phật pháp v.v… Mô hình tu mở rộng này rất dễ thu hút giới trẻ và thường là để lại nhiều ấn tượng sâu sắc trong lòng giới trẻ.
Ngoài ra, việc thành lập những quỹ từ thiện giáo dục như: quỹ hỗ trợ học sinh nghèo, quỹ khuyến học, quỹ bảo trợ, v.v... để giúp đỡ các em sinh viên, học sinh có hoàn cảnh gia đình khó khăn có nguy cơ bị thôi học được tiếp tục đến trường, hay khuyến khích các em học sinh nghèo hiếu học phát huy hơn nữa khả năng học tập nghiên cứu của các em hoặc phát thưởng cho các em học sinh khá giỏi để động viên các em hiếu học hơn nữa v.v... cũng là một cách thiết lập sợi dây gắn kết thanh thiếu niên với Phật giáo.

4. Các tiêu chuẩn để thực hiện
4.1 Vai trò của gia đình – nhà trường – xã hội:
Để giới trẻ có khái niệm về Phật pháp và có ý thức về việc đến chùa tu học, các bậc phụ huynh đóng một vai trò rất quan trọng. Bởi gia đình là cái nôi văn hóa của con người từ khi sinh ra cho đến khi lớn lên. Ở giai đoạn sơ sinh, tức từ khi mới sinh ra cho tới khi 6 tuổi, trẻ chịu ảnh hưởng rất lớn nếp sống và cách cư xử của những người thân trong gia đình, cho dù trẻ có đi mẫu giáo hay ở nhà, dù nhà giàu hay nhà nghèo, nông thôn hay thành thị v.v… Ở giai đoạn này, người mẹ đóng vai trò rất quan trọng đối với trẻ. Người mẹ không chỉ cho con bú mớm, ẵm bồng mà còn hun đúc, huân tập những đức tính thiện lành căn bản cho sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ sau này.
Tới tuổi học sinh, trẻ chịu ảnh hưởng bởi nền giáo dục học đường, nhưng nhà trường chỉ là môi trường để giới trẻ lĩnh hội tri thức, còn tình cảm của người thân, nếp sống truyền thống, chuẩn mực đạo đức của gia đình vẫn giữ vai trò chủ đạo trong việc giáo dục đạo đức cho giới trẻ. Ở giai đoạn này, bên cạnh tình thương yêu ân cần của người mẹ thì sự gần gũi hướng dẫn dạy dỗ của người cha sẽ làm cho nhân cách của trẻ càng thêm tốt đẹp.
Sau khi rời ghế nhà trường, trẻ bước vào giai đoạn trưởng thành ở tuổi thanh niên. Ở giai đoạn này, thanh niên đã tích tập được nhiều kiến thức từ học đường, đã có cách nhìn nhận riêng mang tính cá nhân về cuộc đời và xã hội, nhưng đồng thời cũng bắt đầu tiếp nhận một nền giáo dục mới, đó là giáo dục xã hội. Nền giáo dục này cung cấp các kiến thức chuyên môn để sống và phục vụ xã hội. Chính trong quá trình sống, học tập, lao động, giao lưu, giải trí, thanh niên đã hình thành và phát triển nhân cách của mình theo quy luật lĩnh hội các di sản văn hóa, vật chất và tinh thần do các thế hệ trước để lại và qua sự giao tiếp trong xã hội.
Vì vậy, truyền thống đạo đức gia đình, ý thức hệ của xã hội ảnh hưởng rất lớn trong việc trưởng thành về cuộc sống vật chất lẫn tinh thần của giới trẻ. Nếu được sống trong cộng đồng Phật giáo, nếu cha mẹ là những người Phật tử thuần thành, sống theo nếp sống gia đình Phật tử thì giới trẻ cũng sẽ hấp thụ và sống theo truyền thống này. Nếu gia đình không hình thành nếp sống truyền thống đạo đức thờ cha kính mẹ, kính trên nhường dưới, trên thuận dưới hòa, không hướng dẫn, khuyến khích con em đến chùa, làm quen với môi trường văn hoá Phật giáo thì chắc chắn giới trẻ sẽ không có khái niệm về đức dục, không có khái niệm gì về chùa chiền hay tụng kinh lễ Phật, không biết gì về tư tưởng văn hóa Phật giáo. Và như vậy là một thiếu sót lớn trong quá trình nuôi dưỡng và giáo dục con cái.

4.2 Vai trò của người xuất gia:
Một khi giới trẻ có ý niệm hướng về Phật pháp rồi, muốn tham gia các hoạt động của Phật giáo, và muốn sống trong môi trường Phật giáo, thì Tăng Ni là những người đóng vai trò rất quan trọng trong việc hướng dẫn giới trẻ tu học. Mặc dù giới trẻ có tính hiếu động, cởi mở, dễ tiếp cận, nhưng để hướng dẫn và cảm phục được giới trẻ hiện nay, đòi hỏi Tăng Ni phải là người có tâm huyết, đồng thời phải trang bị đầy đủ kiến thức Phật học lẫn thế học, nhất là kiến thức về tâm lý của lứa tuổi thanh thiếu niên, đồng thời biết sử dụng thành thạo một vài ngoại ngữ và các phương tiện truyền thông giải trí hiện đại như vi tính, kết nối mạng .v.v… Giới trẻ sẽ dễ dàng bị cuốn hút, ảnh hưởng và sẽ tiếp nhận thân giáo của những vị thầy trẻ trung năng động, sẵn sàng lăn xả vào đời những lúc dầu sôi lửa bỏng nhưng không mất vẻ uy nghiêm đức độ, luôn giúp giới trẻ khám phá những điều kỳ diệu chỉ có thể tìm thấy trong cuộc sống đạo đức tâm linh, những sư cô từ độ an hòa luôn vỗ về, sẻ chia những điều mà giới trẻ không thể thổ lộ cùng người thân trong gia đình. Hình ảnh đẹp này sẽ là chiếc cầu đưa giới trẻ đến chùa và sẽ là chỗ dựa tinh thần đáng tin cậy cho giới trẻ.
Đặc biệt, để cảm hóa những trẻ em lang thang, cơ nhỡ cứng đầu, ngỗ nghịch hay những trẻ em thuộc thành phần tệ nạn xã hội, nghiện ngập, buông thả, phóng đãng v.v… thì Tăng Ni phải là những người có tấm lòng vị tha rộng mở, biết thông cảm và tha thứ cho những sai lầm của trẻ. Khi trẻ cảm nhận được tình yêu không phân biệt và bắt đầu có niềm tin thì bước kế tiếp chúng ta phải phân tích cho trẻ thấy những sai lầm mà chúng mắc phải và những tác hại do chúng gây ra, dạy cho chúng khả năng nhận thức, phân biệt rõ phải trái, thiện ác, tốt xấu… Sau khi trẻ đã có được những nhận thức đó rồi, điều quan trọng là chúng ta phải dạy cho chúng biết hướng thiện, sống đạo đức, biết khép mình vào khuôn phép, kỷ luật tự giác, sống có mục đích, có lý tưởng hướng thượng để bản thân sống an lạc hạnh phúc, gia đình xã hội được lợi ích, an hòa.

5. Kết luận
Trên đây là một vài suy nghĩ mang tính thao thức với mong mỏi duy nhất là đưa giới trẻ đến chùa. Hy vọng qua buổi tọa đàm này, ngành hoằng pháp Phật sẽ giáo đúc kết được nhiều ý tưởng hay, để ngày càng có nhiều thanh thiếu niên tìm về với Phật giáo và xem Phật giáo không chỉ là chỗ dựa tinh thần vững chắc mà còn là một môi trường sinh hoạt văn hóa, vui chơi giải trí bổ ích, lành mạnh. Hy vọng ngày càng có nhiều thanh thiếu niên thực hành theo nếp sống, tư tưởng Phật giáo ngỏ hầu đem lại lợi ích cho bản thân, cho tha nhân và góp phần xây dựng một thế giới an lành, hạnh phúc…


Chủ Nhật, 24 tháng 2, 2013

Những lợi ích của thiền

Posted by Unknown 17:08

Ngày nay nhiều người khắp nơi trên thế giới, bất kể tôn giáo của mình là gì, đã thấy được những ích lợi của việc thực hành thiền. Mục đích trực tiếp của thiền là để thanh luyện tâm, và sử dụng nó một cách hiệu quả vào trong đời sống hàng ngày của chúng ta.

Lợi ích ngồi thiền
 Mục đích sau cùng của thiền là để giải thoát khỏi vòng luân hồi sanh tử. Cho dù nó là một công việc khó khăn, những lợi ích tích cực có thể đạt được là ngay ở đây và bây giờ, nếu chúng ta thực hành thiền đúng đắn. Những lợi ích của thiền có thể được tóm tắt như sau:

1. Nếu bạn là người bận rộn, thiền có thể giúp bạn giũ bỏ căng thẳng và tìm thấy sự thảnh thơi.

2. Nếu bạn là người lo lắng, thiền có thể giúp bạn trầm tĩnh và tìm được sự an bình của  tâm.

3. Nếu bạn là người luôn đối phó với nhiều vấn đề phức tạp, thiền có thể giúp bạn phát triển sự can đảm và sức mạnh để đối mặt và vượt qua chúng.

4. Nếu bạn là người thiếu tự tin, thiền có thể giúp bạn có được sự tự tin - bí quyết của thành công trong cuộc sống.

5. Nếu bạn có sự sợ hãi trong tâm, thiền có thể giúp bạn hiểu được bản chất thật sự của những vấn đề khiến cho bạn lo sợ - khi ấy bạn có thể vượt qua được sự sợ hãi.

6. Nếu bạn luôn bất mãn với mọi thứ và dường như không có điều gì trong cuộc sống làm bạn thoả mãn, thiền có thể trao cho bạn cơ hội phát triển và có được sự mãn nguyện.

7. Nếu bạn nghi ngờ và không chí thú đời sống tôn giáo, thiền có thể giúp bạn vượt qua sự nghi ngờ và thấy được những giá trị thực tiễn nơi đời sống tôn giáo.

8. Nếu bạn tuyệt vọng và đau khổ do vì thiếu hiểu biết về sự không bền vững của đời sống và cõi đời này, thiền thực sự có thể thể hướng dẫn và giúp bạn hiểu được bản chất vô thường của những pháp có điều kiện ở cuộc  đời.

9. Nếu bạn là người giàu có, thiền có thể giúp bạn nhận ra bản chất tài sản mà mình có, và biết cách sử dụng nó không chỉ cho hạnh phúc của bản thân mà cũng cho hạnh phúc của tha nhân.

10. Nếu bạn là người nghèo khó, thiền có thể giúp bạn khởi tâm hoan hỉ và không ôm giữ tâm đố kỵ với những người giàu có hơn mình.

11. Nếu bạn là một người trẻ tuổi đang đứng trước ngã ba cuộc đời và không biết lối phải rẽ, thiền có thể giúp bạn có được con đường đúng để tiến đến mục đích chọn lựa của bạn.

12. Nếu bạn là người lớn tuổi buồn chán cuộc đời, thiền có thể mang lại cho bạn sự hiểu biết sâu hơn về cuộc sống; sự hiểu biết này theo đó sẽ giúp bạn thoát khỏi sự buồn đau và làm tăng niềm vui cuộc sống.

13. Nếu bạn có tính nóng nảy, bạn có thể phát triển sức mạnh để vượt qua khuyết điểm dễ sân giận và hờn oán để trở nên bình tĩnh và điềm đạm hơn.

14. Nếu bạn hay ganh tị, thiền có thể giúp bạn hiểu rằng những trạng thái tâm tiêu cực này không bao giờ đóng góp được điều gì lợi ích cho bạn.

15. Nếu bạn không thể hạn chế những tham muốn giác quan, thiền có thể giúp bạn học cách để trở thành ông chủ kiểm soát những tham muốn giác quan của mình.

16. Nếu bạn nghiện rượu hay ma tuý, bạn có thể vượt qua những thói quen nguy hiểm đã khiến bạn trở thành nô lệ này.

17. Nếu bạn là người có tâm lượng hẹp hòi, bạn có thể phát triển sự hiểu biết mà nó có thể giúp bạn, bạn bè và gia đình của bạn tránh những hiểu biết sai lầm.

18. Nếu bạn bị ảnh hưởng mạnh bởi những cảm xúc, những cảm xúc của bạn sẽ không có cơ may dẫn bạn lạc lối.

19. Nếu bạn đau khổ vì một số rối loạn, chẳng hạn như sự suy sụp tinh thần và những buồn phiền trong tâm, thiền có thể kích hoạt những năng lực tích cực ở trong tâm và thân để bạn có lại được sự khoẻ mạnh, đặc biệt nếu chúng là những vấn đề tâm lý.

20. Nếu bạn là người yếu đuối hoặc là người thường mặc cảm tự ti, thiền có thể khiến cho tâm bạn mạnh mẽ hơn để phát triển sự can đảm vượt qua sự yếu đuối của mình.

21. Nếu bạn là một người thông minh, thiền có thể giúp bạn phát triển một trí tuệ cao. Khi ấy bạn có thể nhìn thấy mọi thứ như chúng là, chứ không phải như chúng thể hiện là.

Đây là một vài trong số những lợi ích thực tiễn mà chúng đến từ sự thực hành thiền. Những lợi ích này không có bán ở trong bất cứ cửa hiệu nào. Nhưng bạn có thể phát triển chúng thông qua việc hành thiền của bạn. Tâm là đầu mối của hạnh phúc, và cũng là đầu mối của khổ đau. Để hiểu được tâm và sử dụng nó hữu hiệu là một công việc không phải dễ dàng.

Tinh tấn trong thực hành thiền

Một vài người nói rằng họ rất khó thực hành thiền bởi vì có nhiều phiền nhiễu. Không ai có thể chặn được hết phiền nhiễu. Sự thực là không có nơi nào trên cõi đời này không có sự phiền nhiễu. Nếu chúng ta là người thông minh và có thể hiểu được các vấn đề một cách đúng đắn, chúng ta sẽ biết cách hướng dẫn tâm mình tránh khỏi bất cứ hình thức phiền nhiễu nào.

Lời khuyên của đức Phật là: Khi bạn nhìn thấy đối tượng nào đó, đừng dích mắc vào đối tượng đó, mà hãy phát triển tuệ quán sâu sắc về bản chất thực của các pháp có điều kiện.

Cần nhìn các pháp với sự hiểu biết đúng như sự hiện thể của chúng. Nếu đối tượng hấp dẫn, tốt nhất là đừng để đối tượng đó lôi cuốn, nếu bạn thật sự muốn tâm an tịnh. Đừng để các đối tượng giác quan nắm giữ tâm bạn. Khi bạn nghe một âm thanh nào đó, vui thích hay không vui thích, cần nghe với sự hiểu biết. Bạn phải có chánh niệm để sự rung động âm thanh không ảnh hưởng tâm bạn. Đừng để tâm bạn dính mắc vào đó. Bạn phải thanh luyện tâm mình theo cách này để giữ sự an nhiên tự tại. Đây là giáo huấn chúng ta có thể học từ Phật giáo. Không có phương pháp học thuật nào có thể hướng dẫn chúng ta thanh luyện tâm.

Khi có người yêu cầu Pythagoras định nghĩa thế nào là một triết gia, ông đã nói điều ấn tượng này: “Khi tất cả được mời đến bữa tiệc cuộc đời, một vài người đến đó để thưởng ngoạn, một vài người đến đó để tìm danh vọng, và tuy vậy có người đến đó chỉ để ngắm nhìn. Đây là những triết gia.” Theo cách này, những gì muốn nói là, triết gia không không đồng nhất mình với cuộc đời. Vị ấy nhìn cuộc đời hiện hữu như nó là với tư cách một người quan sát khách quan.

Tâm có thể bị phiền nhiễu bởi những đối tượng và những tác nhân kích thích bên ngoài. Nhưng khi những đối tượng và tác nhân bên ngoài không quấy nhiễu tâm, thì lúc ấy tâm tự tạo ra những đối tượng hay sự tưởng tượng. Sau đó nó hướng đến phát triển tham, sân và si mà chúng làm ô nhiễm tâm, theo đối tượng mà nó tạo ra. Thiền định là cách duy nhất nhờ đó chúng ta có thể kiểm soát tâm. Người trí tập trung vào bất cứ đối tượng nào cho dù nó vừa ý hay không vừa ý mà không khởi sự yêu thích hay ghét bỏ đối tượng.

Chúng ta tốn nhiều thời gian cho thân thể chúng ta: tắm rửa nó, mặc áo quần cho nó, nuôi nấng nó, làm đẹp và thư giản nó, nhưng chúng ta dành bao nhiêu thời gian cho tâm của mình?

Nhiều bệnh tật và sự rối loạn có thể tránh được nếu người ta có thể hi sinh một ít thời gian trong ngày để làm tĩnh tại các giác quan thông qua việc thực hành thiền định. Nhiều người không tin vào điều này hoặc quá lười biếng thực hành thiền do thiếu hiểu biết. Một số người nói rằng hành thiền chỉ là một sự phí phạm thời gian.

Thiền có thể giúp chúng ta vượt qua tâm bệnh và duy trì sức khoẻ tốt thông qua việc phát triển tâm. Khi chúng ta chứa chấp những tư tưởng xấu trong tâm, nhưng ô nhiễm này có thể làm hại thân thể vật lý chúng ta và chúng ta chịu những ảnh hưởng xấu. Y học đồng ý rằng tâm có thể là nguồn cho mọi hình thức bệnh tật và chính tâm ấy cũng có thể được sử dụng để chữa bệnh.

Con đường đưa đến giải thoát

Giáo dục khoa học, nếu không được kết hợp với việc huấn luyện tâm thức hay những nguyên tắc tôn giáo đúng đắn, thì có thể tạo nên thảm hoạ. Sự thực, chúng ta thấy điều này xảy ra khắp nơi trên thế giới. Những người có học mà không có trí tuệ và lòng từ bi, được biết đã lạm dụng trí thông minh của họ bằng việc chọn những cách thức xấu để đạt lấy những tham vọng hay mong muốn của họ. Bởi vì việc ứng dụng tri thức và công nghệ khô cứng, ngày nay chúng ta đối mặt với những vấn đề và đe doạ lớn hơn những gì tổ tiên chúng ta đối mặt trong quá khứ. Khắp nơi trên thế giới người ta đang đánh giết nhau. Phật giáo dạy chúng ta rằng không có bất cứ lý do nào có thể biện minh cho việc sát hại. Điều tệ hơn là khi người ta nhân danh tôn giáo để đánh giết nhau.

Thiền có thể đóng góp nhiều để chế ngự tâm thức có hại. Bằng việc biết rằng tốt và xấu cả hai đều có mặt ở trong tâm mình, chúng ta nên quán sát mỗi tư tưởng của mình một cách cẩn trọng và hành động có chánh niệm. Chúng ta phải cố gắng tìm ra bản chất của các tư tưởng mà nó xuất hiện trong tâm. Xem xét những tư tưởng xuất hiện như chính nó là một sự hành thiền.

Khi cái “Tôi” có ý thức quấy rầy quá nhiều, lo lắng quá nhiều, hay những buồn đau kéo quá dài và quá mãnh liệt, thì khi ấy bệnh tật có nguy cơ phát triển trong thân thể. Bệnh loét dạ day, bệnh ngoài da, bệnh động mạch vành và nhiều những rối loạn chức năng khác là những sản phẩm của sự bất cân bằng của tâm và cảm xúc. Trong trường hợp trẻ em, khiếm khuyết thị lực là thường liên quan đến những rối loạn cảm xúc.

Nếu bạn thực hành thiền, bạn có thể học cách hành xử như một người điềm đạm cho dù bạn bị quấy nhiễu bởi những người khác. Thông qua thiền bạn có thể học cách thư giản cơ thể và làm an tịnh tâm; bạn có thể học cách làm an tịnh và có hạnh phúc bên trong.

Thiền làm cho tâm mạnh mẽ và kiểm soát cảm xúc khi bị quấy nhiễu bởi những tư tưởng và cảm giác tiêu cực như ghen tị, sân hận, tự kiêu và đố kỵ.

Chúng ta phải nhớ rằng những bậc thầy tâm linh ở cuộc đời này đã đạt đến điểm cao nhất của đời mình thông qua việc hành thiền. Ngày nay, họ được hàng triệu người tôn kính bởi vì họ đã đóng góp lớn lao cho loài người ngang qua trí tuệ, sự kiên nhẫn và hiểu biết siêu việt của họ.

Phật giáo đề cập đến những hoạt động của tâm và những phương pháp thiền định bằng những cách thức chi tiết nhất. Con đường giải thoát là một con đường phát triển tâm thức. Để định hướng thái độ và hành xử của chúng ta có lợi cho tiến trình tâm linh, chúng ta nên thiền quán vào bốn đối tượng: đức Phật, từ bi, sự bất toàn của đời sống, và cái chết. Cho dù thời gian dành cho những chủ đề này không nhiều, bốn đối tượng thiền quán này đưa đến sự phòng hộ, và phát triển tiến trình của hành giả cùng với con đường giải thoát.

                                                                                                                             Trích : Hoa Linh Thoại

Thứ Bảy, 23 tháng 2, 2013

Nuôi Thói Quen Niệm Phật

Posted by Unknown 22:15



Niệm Phật là sớm tối mỗi ngày biết được niệm, vậy thì bình thường biết được niệm không? Ngẫu nhiên nhớ được niệm, niệm cũng không được mấy câu thì dứt. Nếu muốn nuôi dưỡng thành thói quen niệm Phật, tốt nhất là sáng sớm thức dậy còn ở trên giường thì niệm (niệm thầm), tối lại lúc ngủ cũng niệm, niệm đến khi ngủ, từ nay bắt tay làm đi thì thói quen niệm Phật dễ nuôi dưỡng thành.

Ngày ngày niệm, giờ giờ niệm, khởi tưởng thì niệm liền, mới có thể nuôi thành thói quen niệm Phật, khiến thói quen trở thành tự nhiên, tự nhiên miệng lúc chẳng niệm mà tâm vẫn ở nơi niệm, chẳng niệm mà tự niệm, trong tâm có Phật, lâu ngày công phu sâu dày, miệng niệm tâm nghĩ, tự nhiên thành một, nhất tâm bất loạn. Niệm Phật niệm đến lúc quên ta (vong ngã), thì đạt được niệm Phật tam muội, cũng có thể ngộ đạo, đoạn trừ phiền não, liễu thoát sinh tử.

Nếu cả ngày vì công việc bận rộn! Vì danh lợi bận rộn! Vì hưởng thụ dằng dặc xao nhãng, phân tán buông lung, tâm chẳng ở tại đạo, cần công phu tu tập cũng lúc có lúc không, dứt quãng hay tới tấp bất thường, thường bị động chuyển trong sự vui, giận, buồn, ưa… đối việc thuận ý thì tâm sinh khấp khởi vui reo, đối với việc nghịch ý thì khởi tâm ghét hận (trôi nổi theo sóng phiền não, làm sao bình tâm tịnh ý mà xét việc sai đúng), thì làm sao có thể nuôi dưỡng thành thói quen niệm Phật. Ðâu rõ biết ba tạng, mười hai bộ kinh, biện tài không ngăn ngại, danh tướng thì bàn luận lung tung, biết rõ mà không làm, nói rõ mà không luyện, thì ra không khỏi ba cõi!

(Hòa thượng Thích Trí Thủ)

Ý Nghĩa Của Quy Y Tam Bảo

Posted by Unknown 21:19


A. VÌ SAO PHẢI QUY Y TAM BẢO :

Chúng ta biết rằng đa phần các tín đồ theo Phật giáo thường là không có quy y Tam bảo. Bởi vì người đã quy y Tam Bảo thời thường lễ Phật đốt hương, nhưng người biết lễ Phật đốt hương thì chưa chắc đã quy y Tam Bảo. Tuy nhiên người chưa từng quy y Tam Bảo họ vẫn có thể xưng mình là tín đồ của Phật giáo mà chúng ta không thể phủ nhận sự tín ngưỡng của họ.

Có người chủ trương tin Phật chỉ cần có tâm thành là đủ, hà cứ gì mà phải quy y ? Quan niệm này mới nghe dường như có lý, thực chất thì không hợp với thực tế. Ví như học sinh khi muốn đi học đầu tiên phải làm thủ tục nhập học, nếu không như vậy thì không có hồ sơ chính thức ở trường nên dù cho có thể dự thính nhưng sẽ không được cấp văn bằng và học bạ. Một người học trò đích thực thì phải học theo các chương trình mà nhà trường đặt ra từ thấp tới cao. Ngòai việc làm thủ tục nhập học còn tùy theo trình độ ở mỗi cấp học mà học sinh còn phải thi tuyển mới được vào trường để học, nếu như không học tiểu học mà đòi lấy văn bằng đại học cho đến học vị Tiến sĩ là điều không thể có được, do vậy người tin theo Phật cũng phải bắt đầu từ việc quy y Tam bảo. Mặc dầu quy y Tam Bảo chỉ là bước khởi đầu trong quá trình học Phật nhưng nếu không có bước khởi đầu thì làm sao có các bước tiếp theo được. Đệ tử Phật lấy việc thọ giới mà phân cấp bậc, quy y Tam Bảo là việc căn bản nhất tiếp theo mới đến thọ Ngũ giới, Tám giới, Mười giới, Tỳ kheo giới, Bồ tát giới. Nói tóm lại tất cả mọi giới pháp đều lấy việc quy y Tam Bảo làm nền tảng căn bản. Quy y Tam Bảo tức là bước đầu tiên của việc vào đạo tin Phật. Phật giáo không bỏ bất kỳ chúng sanh nào, do đó đối với việc quy y Tam Bảo cũng không có sự hạn lượng nhất định. Trong lục đạo chúng sinh trừ Địa ngục là nơi thọ khổ vô cùng vô tận không thể quy y Tam Bảo được. Các nơi khác bất kể là Người, Trời, Thần, Quỷ vật và Súc sinh chỉ cần phát tâm quy y, Phật giáo đều tiếp nhận cả. Đây cũng giống như đã là học sinh đủ tuổi đi học thì bất luận là giàu nghèo, sang hèn, ngu đần hoặc thông minh đều được nhập học vậy.

Lại có người nghĩ rằng mình có thể đọc sách xem kinh thời tự mình cũng có thể trực tiếp tìm thấy con đường thành Phật trong kinh sách, việc gì mà phải quy y, điều này nói về lý hình như có thể chấp nhận được nhưng đứng trên mặt nguyên tắc của sự tướng thì lại là một sự sai lầm lớn, bởi vì kinh Phật là do Phật nói hay do đệ tử của Phật nói rồi được các vị đệ tử xuất gia của Phật kiết tập thành kinh điển truyền lưu hậu thế, nay nếu nói rằng chỉ cần xem kinh mà không cần biết đến Phật là người nói ra kinh ấy, cho đến không cần biết đến những vị Tăng là người đã có công truyền bá những kinh điển ấy, cho dù có quy y với Pháp đi nữa thì cũng là hành vi vong ân không thể chấp nhận được. Phật giáo mặc dầu lấy Pháp bảo làm nền tảng, phương pháp tu hành cũng từ Pháp bảo mà lưu xuất nhưng Pháp Bảo cũng từ Phật Bảo và Tăng bảo mà ra, do vậy Tam Bảo là ba yếu tố không thể tách rời nhau được.

Lại nói về quy chế và nghi thức thời tin Phật mà không quy y Tam Bảo cũng giống như có một người ngọai quốc yêu mến nền văn hóa và cảnh vật của Việt Nam rồi đến Việt Nam cư trú mà không chịu thay đổi quốc tịch vốn có của mình, mà lại tự xưng rằng tôi là người Việt Nam, thời họ có thể được người Việt Nam hoan nghinh nhưng sự thật thì họ vẫn chưa thể được công nhận là người Việt Nam thật sự. Cũng như vậy người không quy y Tam Bảo mà tự nhận mình là người tín đồ Phật giáo, mặc dầu họ vẫn có thể nhận được một vài lợi ích nào đó nhưng nói cho cùng thì về nhân cách họ vẫn chưa được chư Phật ấn chứng là đệ tử của Phật. Đây không phải là sự chấp trước mà là thủ tục cần phải thực hiện khi vào cửa Phật, cho nên trong kinh Phật dạy người đời tuy là làm thiện nhưng vẫn không diệt trừ được ác nghiệp của đời trước, chỉ có quy y với Tam Bảo mới có thể tiêu trừ được ác nghiệp của tiền kiếp.
Quy y Tam Bảo vừa là nghi thức vừa là nội tâm khi quy y Tam Bảo miệng phải đọc, thân phải lễ và tâm còn phải nghĩ nữa, chủ yếu vẫn là từ nội tâm lãnh thọ giới pháp quy y gọi là giới thể, giới thể cần phải do người đã quy y Tam Bảo tức là bậc Thầy xuất gia truyền trao. Đây chính là sự truyền thừa của hệ thống pháp phái. Là người phàm phu không thể nào không Thầy mà tự chứng. Do vậy quy y Tam Bảo không thể chỉ đối trước tượng Phật và Bồ Tát mà tự thệ nguyện thọ trì được, do vậy mà biết được tính trang nghiêm và cần thiết khi đối trước vị Thầy cầu thọ pháp Tam Quy.

Cho nên không thọ Tam Quy y mà muốn trở thành một tín đồ Phật giáo chân chánh là điều không thể có được. Nếu chỉ tin Phật và Pháp mà không kính lễ chư Tăng thời đã hủy họai tính căn bản của Phật Pháp bởi vì Tam Bảo không thể tách rời. Do vậy người đã hủy họai Phật Pháp thời không thể có được thiện quả, cho nên khi đã tín phụng Tam Bảo thời phải quy y Tam Bảo.

Lại có một số người tuy là chưa tin Phật nhưng có cảm tình đối với Phật giáo thời họ không muốn quy y Tam Bảo ngay, vì sợ rằng sau khi quy y họ sẽ bị nhiều ràng buộc, cho nên họ thường có thái độ đứng ngòai để xem xét, họ có quan niệm quy y Tam Bảo cũng như việc Nam Nữ kết hôn vậy, khi chưa hiểu rõ đối phương mà vội vàng kết hôn thời sẽ khổ cả đời. Thật ra hai việc này hòan tòan khác nhau cũng giống như chúng ta muốn học một nghề nào đó mà lại không muốn đầu sư thời làm sao có thể tinh thông nghề nghiệp được, sự lợi ích của việc đầu sư chính là việc tiếp nhận những kinh nghiệm và sở trường của vị Thầy được tích lũy qua nhiều thế hệ, do vậy khi ta đầu sư cũng là được kế thừa những kinh nghiệm quý báu, khi đã học thành cũng không thể lập tức rời Thầy, việc quy y Tam Bảo cũng vậy, muốn hiểu rõ Phật Pháp thời bắt đầu từ việc quy y Tam Bảo, nếu chỉ đứng ngòai để quan sát mà mong được hiểu rõ thời chỉ là vọng tưởng. Cửa Phật không phải là lao ngục mà là con đường giải thóat rộng lớn thênh thang, Phật giáo mong mỏi mọi người đều từ việc quy y Tam Bảo mà tiến vào con đường học đạo giải thóat, nhưng nếu có người vì căn cơ thấp kém không muốn quy y hay theo đạo khác, hoặc không có niềm tin đối với bất kỳ tôn giáo nào, với những người này Phật giáo vẫn từ bi mở rộng cửa Thiền môn chờ đón họ như những người lãng tử trở về cố hương.

Do vậy chúng ta cần phải khuyên bảo mọi người trên thế gian quay về quy y với Tam Bảo bất kể là người đã tin theo Phật hay chuẩn bị để tin theo Phật, hoặc giả là người đang đứng ngòai cửa Phật để quan sát ngó nhìn, thậm chí là người theo tôn giáo khác, chúng ta vẫn sẳn lòng mời họ dẹp bỏ đi những thành kiến cố hữu, hay tôn giáo mà họ đang theo, thử đến quy y với Tam Bảo một lần họ sẽ thấy được lợi ích to lớn và sự tự do thật sự, khi đã quy y Tam Bảo rồi trừ khi bị ma chướng che lấp chân tâm, nếu không thời sẽ chẳng bao giờ thối thất tâm mình đối với Tam Bảo.

B. THẾ NÀO LÀ QUY Y TAM BẢO

Trên phương diện chữ nghĩa, hai chữ quy y có nghĩa là : quay về hay hồi chuyển. Y là nương tựa hoặc dựa vào, những hành vi hồi chuyển nương tựa hoặc quay đầu dựa dẩm tin tưởng, đều có thể gọi là quy y. Cho nên quy y không phải là danh từ chuyên dùng của Phật giáo.

Như trẻ thơ quay đầu vào lòng cha mẹ dựa dẩm vào Cha mẹ, tin tưởng Cha mẹ mới có được cảm giác an toàn, cảm giảc an toàn này được phát sinh từ sức mạnh và năng lực của sự quy y, do vậy bất kỳ một hành vi nào làm phát sinh cảm giác an tòan từ sự quay đầu dựa dẩm và tin tưởng đều gọi là quy y.

Do đó con cái tin tưởng Cha mẹ, học sinh tin tưởng vào Thầy, các nhà doanh nhân tin tưởng vào những kế hoặch và dự toán buôn bán, người cấp dưới tin tưởng vào cấp trên, các nhà Túc mệnh luận tin tưởng vào mạng vận, người phụ nữ góa bụa tin tưởng vào vũ lực, những chính khách tin tưởng vào mưu lược, người tham lam tin tưởng vào tài sản.v.v.. tất cả ít nhiều đều mang âm hưởng của sự quy y, hay nói cách khác tất cả mọi sự lý được phát sinh từ năng lực của sự tín ngưỡng đều được liệt vào quy y. Do vậy tín ngưỡng Phật giáo cũng được gọi là quy y hay tín ngưỡng vào các tôn giáo khác cho đến việc sùng bái Thần thánh tà ma vẫn có thể gọi là quy y, nhưng chân nghĩa hay ý nghĩa chân thật của sự quy y, thời là lĩnh vực khác. Bất kỳ sự dựa dẫm tin tưởng hoặc tín ngưỡng vào những điều không cứu cánh, không chắc thật thì không thể gọi là sự quy y chân chánh được, cũng ví như khi mưa to bảo lớn người ta liền trèo lên cây, trèo lên nóc nhà, chạy lên gò cao nhưng khi nước dâng cao, sóng gió nổi lên thì cây cũng có thể đổ, nhà có thể sập, gò cao có thể bị nhấn chìm, do đó trong trường hợp cấp bách như vậy nếu như gần đó có một ngọn núi cao, thì có phải rằng mọi người đều chạy lên ngọn núi ấy không ? chỉ trừ những người ngu si vô trí mới bỏ qua cơ hội tốt đẹp ấy. Do vậy núi cao có năng lực và hiệu quả an toàn hơn hẳn cây cối nhà cửa và gò đất.

Cũng vậy người có thể nhận rõ được thế sự vô thường, hiểu rõ được vạn pháp đều do nhân duyên đối đãi tương hợp mà thành, thời chắc chắn có đủ năng lực để hiểu ro.õ Cha mẹ, Thầy giáo, Kế họach dự toán, Cấp trên, Mạng vận, cho đến Vũ khí, Mưu lược, Tài sản..v.v. đều có thể phát sinh hiệu quả của sự an toàn, nhưng không chắc chắn và vĩnh cữu, bởi vì cha mẹ rồi cũng chết, tri thức của Thầy giáo rồi sẽ bị lạc hậu, dự toán có khi không chuẩn xác. Quan trên có khi bị mất chức hoặc bị điều đi nơi khác, vận mệnh không thể tuyệt đối tin tưởng, vũ lực , mưu lược, tài sản đều như huyễn, như mây, như khói. Hôm nay có thể là Vua ở phương Nam biết đâu ngày mai sẽ là người tù trong ngục tối, hôm nay là triệu phú giàu sang ai biết được ngày mai đang là chàng cùng tử xin ăn khắp nẻo đường xó chợ.

Thậm chí tin tưởng tín ngưỡng vào các Tôn giáo khác có thể được sanh Thiên nhưng chưa chắc là do tín ngưỡng ấy mà quyết định sanh thiên, ví như người tin theo đạo Thiên chúa hay Tin lành thì thánh kinh nói rằng: sẽ được cứu nhưng chưa chắc là sẽ được cứu hết. Thượng đế không thiên vị, nhưng lòng thành của bạn chưa chắc giúp bạn là người dân của xứ Thiên đàn. Lại đứng trên gốc độ của Phật giáo mà nhìn, Phật giáo chính là tôn giáo vượt ngoài mọi Tôn giáo, bởi vì lý tưởng cao siêu nhất của tất cả các Tôn giáo cũng chỉ là sanh lên cõi trời mà không vượt ngoài hạn định ấy, nhưng cõi trời trong Phật giáo dù là cõi trời cao tột nhất cũng không vượt ra ngoài sinh tử luân hồi. Thọ mạng ở cõi trời dù lớn hơn con người nhưng cũng đến lúc cùng tận, phước trời một khi đã hết cũng không tránh khỏi đọa lạc, do vậy đó không phải là nơi quy y chắc thật nhất, chỉ có quy y Phật giáo mới có thể khiến cho con người từng bước từng bước thóat ly khổ não đến với con đường giải thóat cứu kính an lạc. Tổng thể của Phật giáo chính là Phật Pháp Tăng Tam bảo.

Trên thực tế khuynh hướng của sự quy y bắt đầu từ quy y Tam Bảo, tin tưởng Tam Bảo, dựa vào Tam Bảo để khởi phát tâm mình và dẫn đường cho mình đến với con đường giải thóat hướng về Niết Bàn, nhưng khi hướng đến Niết Bàn giải thóat thì tự thân mỗi người đều chính là lý thể Tam Bảo, bởi vì mọi chúng sanh đều có Phật Tánh chỉ bởi nghiệp chướng mê hoặc mà không thể nhìn thấy Phật tánh của mình, mục đích của việc quy y Tam Bảo chính là việc cầu tìm sự hiển bày Phật Tánh, bởi vì mỗi chúng ta vốn giống chư Phật, vốn cùng Tam Bảo chỉ vì mê muội đánh mất bản tánh lưu lạc trong sanh tử, quên mất lối về mới gọi là chúng sinh, nếu chúng ta kịp thời quay về trong lòng của Tam Bảo, thì cũng như chàng lãng tử trở về cố hương mà thôi.

Do vậy chỉ có tìm ra con đường quay về, trở về nhà thì mới gọi là quy y chân chánh, còn nếu chỉ là những nơi dừng chân tạm bợ thì không phải là quy y chân chánh được, cũng giống như người cưỡi con trâu đất vượt qua sông thì chỉ cần nhúng chân xuống nước Trâu đà tan rã lấy gì vượt sông ?.

Tam Bảo là gì ? Tam Bảo là Phật Pháp Tăng, vì sao được gọi là Bảo điều này rất quan trọng. Một người muốn tin Phật tất phải quy y Tam Bảo trước, nhưng trước khi quy y cần phải hiểu rõ ý nghĩa của Tam Bảo nếu chỉ mơ hồ mà quy y thời không thể gọi là quy y chân chánh được. Cũng giống như người ghi tên thi đại học nhưng không biết tên tuổi và lọai hình mà trường mình sẽ thi, thời thật nực cười vậy. Nhưng chúng ta thật đau buồn bởi vì ngày hôm nay biết bao nhiêu người mang tiếng đã quy y Tam Bảo nhưng chẳng hiểu được ý nghĩa của Tam bảo là gì, cũng có biết bao nhiêu vị Thầy truyền giới quy y nhưng chưa hề giảng cho đệ tử hiểu rõ ý nghĩa Tam Bảo là gì, điều này thật đau buồn vô cùng.

Tam Bảo chính là Phật Pháp Tăng bởi vì trong Phật Pháp Tăng có thể sinh ra vô lượng công đức và phát huy vô lượng diệu dụng, công đức và diệu dụng ấy là vô cùng vô tận, vô biên, vô tế, lấy không cùng tận, sài không cạn kiệt. Thế gian lấy giá trị của vàng bạc châu báu và công dụng to lớn của nó để gọi nó là trân bảo, còn công đức và diệu dụng của Phật Pháp và Tăng thời vượt ra ngoài cả thế gian và xuất thế gian cho nên càng quý hơn trân bảo nữa. Bởi vì sự hóa đạo của Tam Bảo có thể làm cho con người được bình an trong cuộc sống, có thể làm cho con người lìa khổ được vui, do vậy Tam Bảo càng quý giá hơn cả trân bảo của thế gian nữa.
Từ xưa đến nay có nhiều cách để phân loại về Tam Bảo nhưng đại thể có hai lọai là sự tướng và lý thể.

1- Nói về sự tướng thì có Trụ trì Tam Bảo và Hóa tướng Tam Bảo.

2- Nói về lý thể thì có Nhất thể Tam Bảo và Lý thể Tam Bảo.

Trước khi giải thích về chủng loại của Tam Bảo cần phải hiểu hàm ý về Tam Bảo, Phật tức là giác giả, tự giác, giác tha và giác mãn. Pháp tức là Pháp tắc là những quy phạm có năng lực dẫn dắt con người hiểu rõ và hành trì để không đánh mất đi lẽ chân thật. Tăng chính là hòa hợp chúng là sự tương hợp giữa sự và lý.

a. Trụ trì Tam Bảo :

Tất cả những hình tượng bằng ngọc ngà châu báu, tượng đắp, tượng vẽ đều là Phật bảo. Tất cả những kinh điển cho đến trước tác của các vị Đại Đức tăng già đều gọi là Pháp bảo. Tất cả những vị cạo đầu xuất gia mặc áo hoại sắc thọ giới tu hành đều gọi là Tăng bảo, bởi vì sau khi đức Phật nhập Niết Bàn, Phật giáo dựa vào Trụ trì Tam Bảo để duy trì mạng mạch, giữ vững tinh thần và truyền bá chân lý nên được gọi là Thế gian trụ trì Tam Bảo.

b. Hóa tướng Tam Bảo :

Trong suốt quá trình Đản Sanh, Thành Đạo hóa độ tại Ấn Độ đức Thích Ca Mâu Ni được gọi là Phật bảo, trong thời kỳ đó những giáo lý mà đức Phật dạy cho các đệ tử như Tứ Thánh đế, Bát chánh Đạo, Thập Nhị Nhân Duyên .vv đều gọi là Pháp bảo, những vị thánh đệ tử xuất gia tu hành đệ tử của Phật gọi là Tăng bảo, đây đều là những tướng trạng về Tam Bảo khi Phật còn tại thế đã ứng hóa ra nên gọi là hóa tướng Tam Bảo.

c. Nhất thể Tam Bảo : Là trong Tam Bảo mỗi phần đều có đầy đủ công đức của các phần khác : như Phật có năng lực giác chiếu nên gọi là Phật bảo, Phật lại có khả năng thuyết pháp tự tại với Pháp, nên có năng lực quỷ trì, do vậy trong Phật cũng có Pháp Bảo, Phật không mất thanh tịnh cho nên trong Phật có đầy đủ Tăng bảo.

Bổn thể của pháp có năng lực sanh ra Phật tánh của chư Phật cho nên Pháp có đầy đủ tính chất của Phật bảo. Bản thân của Pháp có công năng quỷ trì cho nên Pháp là Pháp bảo, các pháp bình đẳng không hề chướng ngại nên trong Pháp có đầy đủ ý nghĩa của Tăng bảo, Tăng là người có trí quán chiếu nên Tăng có tính chất của Phật bảo, Tăng cũng chính là người có công dụng quỷ trì nên Tăng có tính chất Pháp bảo. Tăng là người có bản thể hòa hợp nên tăng là Tăng bảo.

d. Lý thể Tam Bảo : Là nói tất cả chúng sinh đều có đầy đủ bản chất của Tam Bảo trong mỗi tự thân, điều này đứng trên hai phương diện:

d.1- Trên phương diện tu chứng : tất cả phàm phu đều bởi Hoặc-Nghiệp-Khổ mà lưu chuyển trong sinh tử, nếu có thể chuyển mê thành ngộ thì Hoặc trở thành Bát Nhã; Nghiệp sẽ trở thành Giải thoát ; Khổ sẽ trở thành Pháp thân. Bát Nhã là Phật Bảo, Giải Thóat gọi là Pháp Bảo, Pháp Thân gọi là Tăng Bảo.

d.2- Trên phương diện lý thể chân như thì lý năng quán là Phật bảo, sự sở quán là Pháp bảo, sự lý nhất như là Tăng bảo.
Thật ra Tam Bảo tuy chia làm bốn lọai nhưng chỉ có hai tính chất và không vượt ra ngòai sự lý, sự tướng của Tam Bảo là hiện thực nên dể hiểu còn lý thể của Tam Bảo là trừu tượng nên khó hiểu. Trừ khi chứng đắc khai ngộ hiểu rõ tự tánh chân như nếu không thì sẽ cảm thấy mơ hồ với ý nghĩa về lý thể Tam bảo. Như ngài Ấn Thuận giải thích: Nói đến sự chân thật của quy y, thì từ xưa đến nay có rất nhiều cách phân biệt, nay chỉ lược thuyết hai loại, 1/ Công đức vô lậu của Phật là Phật Bảo tức là ngũ phần pháp thân (Giới định tuệ, Giải thóat và Giải thoát tri kiến), hay vô thượng Tứ Trí Bồ đề có thể thâu nhiếp tất cả công đức vô lậu, gọi là Phật bảo. Chánh pháp hoặc Niết Bàn thì gọi là Pháp bảo, công đức vô lậu của hữu học vô học đều gọi là Tăng bảo, nghĩa là các vị tứ hướng tứ quả hoặc Bồ Tát, Thanh Văn, Bích Chi. 2/ Theo đại thừa sở thuyết giáo thì cứu cánh viên mãn hiển bày nên pháp giới thanh tịnh, nhiếp đắc thể tướng nghiệp dụng thì là Phật bảo hiển hiện được phần nào về pháp giới thanh tịnh thì là Tăng bảo, biến khắp thập phương pháp giới mà không tăng không giảm, pháp giới không nhị, không biên, chân như thật tướng thời gọi là Pháp bảo. Nhất thể Tam Bảo, Lý thể Tam Bảo , thường trụ Tam Bảo đều là cách giải thích không giống nhau về ý nghĩa này của Tam Bảo mà thôi. Chúng ta là phàm phu nếu không có căn bản về Phật Pháp thì rất khó hiểu được ý nghĩa của lý thể Tam Bảo, nhưng nếu chỉ cần tin vào sự tướng của Tam Bảo, thì đến một lúc nào đó lý thể của Tam Bảo tự nhiên hiển hiện cũng giống như người chưa từng vào trong không gian thì đối với những cảnh tượng trong không gian cho dù những nhà khoa học có giải thích tường tận như thế nào đi nữa chúng ta cũng khó lãnh hội được toàn vẹn, chỉ có tự mình đi trong không gian mới có thể thấu rõ tường tận, do vậy là phàm phu nếu có thể tín ngưỡng trụ trì Tam Bảo thời cũng đủ rồi, nhưng chúng ta cần phải hiểu rằng không có trụ trì Tam Bảo thì không thể hiển bày được lý thể Tam Bảo , nếu không có lý thể Tam Bảo thời không xác lập được trụ trì Tam Bảo . Trụ trì Tam Bảo là đại dụng của lý thể Tam Bảo, Lý thể Tam Bảo là toàn thể của trụ trì Tam Bảo, tín ngưỡng Phật giáo thì phải bắt đầu từ sự tín ngưỡng trụ trì Tam Bảo , mục đích của việc tín ngưỡng trụ trì Tam Bảo là truy cầu sự hiển bày của lý thể Tam Bảo. Ngày nay có nhiều vị cư sĩ tại gia chưa chứng được lý thể Tam Bảo đã lấy lý do chỉ tin lý thể Tam Bảo mà không quy kính trụ trì Tam Bảo đó là hành vi của sự thối thất. Người phàm phu chúng ta chỉ có thể thấy được sự tướng Tam Bảo còn hóa tướng trong sự tướng Tam Bảo chỉ tồn tại khi phật còn tại thế, sau khi Phật diệt độ chỉ còn lại trụ trì Tam Bảo, trong Tam Bảo Phật là tối tôn tối quí, Pháp là tối cao tối thắng còn Tăng là tối trọng tối yếu. Sau khi Phật diệt độ các cơ sở Phật giáo đều do Tăng bảo trụ trì, kinh điển của Phật giáo đều do Tăng Bảo bảo tồn, văn hóa của Phật giáo đều do Tăng bảo truyền bá, tín đồ của Phật giáo đều do Tăng bảo chỉ dạy, khi Phật còn tại thế thì Phật giáo lấy Phật làm trung tâm, sau khi Phật diệt độ thì Phật giáo lấy Tăng bảo làm trọng yếu, cho nên ngày nay tín ngưỡng Phật giáo cần phải lấy Tăng bảo làm y cứ, cung kỉnh Tam Bảo cũng phải lấy Tăng bảo làm nền móng. Mặc dầu trong Tăng chúng có người này kẻ nọ, do vậy khi quy y cũng cần phải biết chọn Thầy hiền làm sư, nhưng với tâm niệm cúng dường thì phải, phát tâm bình đẳng. Trong kinh Phật dạy dù là Tỳ kheo phá giới vẫn đủ tư cách làm Thầy của trời người, do vậy không được có tâm phân biệt cao thấp, càng không được vọng tâm phê bình.

Quy y Tam Bảo vẫn bắt đầu từ căn bản học Phật tin Phật, nhưng sau khi bước vào cửa Phật rồi cũng không được rời bỏ căn bản này, mà phải từ căn bản này từng bước đi lên, do vậy quy y Tam Bảo có năm lọai :

1- Phiên tà Tam quy tức là bước đầu học Phật

2- Ngũ giới Tam quy tức là sau khi tin Phật rồi phải thọ ngũ giới.

3- Bát giới Tam quy tức là trong những ngày trai giới thọ trì Bát quan trai.

4- Thập giới Tam quy tức là thọ trì Sa di Sa di ni giới.

5- Cụ túc giới Tam quy tức là Tỳ kheo, tỳ kheo ni đại giới.

Phàm khi thọ giới đều phải có Tam quy, từ bước đầu học Phật cho đến thọ Ngũ giới, Bát giới, Thập giới đều lấy Tam quy làm nền tảng để nạp thọ giới thể, Thức Xoa Ma Ni giới, Tỳ khưu, Tỳ khưu ni giới đều lấy pháp Yết ma để thọ giới nhưng trong quá trình thọ giới vẫn phải hành pháp Tam quy. Cho đến người thọ đại thừa Bồ Tát giới, trước khi sám hối và phát nguyện cũng đều phải thọ Tam quy. Do vậy tuy Tam quy không phải giới nhưng là căn bản của hết thảy các giới. (Kỳ thật trong Tam quy bao hàm cả giới nghĩa).
Tam quy không những là căn bản của các giới mà còn là căn bản của quá trình tu tập hàng ngày, của tín đồ Phật giáo những thời kinh sớm tối của các chùa đều có Tam quy, tất cả mọi công việc Phật sự cũng lấy Tam quy làm nền tảng y cứ. Ở các nước Phật giáo Nam Truyền rất chú trọng Tam quy, lấy việc xướng tụng Tam quy làm căn bản hành trì, lấy việc xướng tụng Tam quy làm lời chúc nguyện.

C- LỢI ÍCH CỦA QUY Y TAM BẢO

Ích lợi của việc quy y Tam Bảo rất nhiều, có thể cầu được hiện thế an lạc, có thể cầu cho đời sau an lạc, càng có thể từ đây mà được sự an lạc cứu cánh của Niết Bàn tịch tĩnh, tổng hợp lại có tám điều lợi ích :1/ trở thành đệ tử của Phật. 2/ là nền tảng của việc thọ giới. 3/ có thể tiêu trừ nghiệp chướng. 4/ có thể tích tập phước đức to lớn. 5/ không đọa ác đạo. 6/ Người và phi nhơn không thể làm hại. 7/ có thể thành công trong mọi việc lớn. 8/ Có thể thành Phật.

Ích lợi của việc quy y Tam Bảo, trong kinh Phật nói đến rất nhiều, nay chỉ đơn cử một vài ví dụ :

1. Kinh Ưu Bà Tắc giới có nói : Nếu người quy y Tam Bảo thời trong tương lai sẽ được phước báo to lớn không thể cùng tận, ví như có được của báu mà người trong cả nước vận chuyển trong bảy năm cũng không hết được, công đức của việc quy y Tam Bảo còn lớn hơn thế gấp ngàn vạn lần.

2. Kinh Triết Phù La Hán có nói xưa kia có một vị Thiên tử ở cung trời Đao Lợi khi phước trời đã hết, Thiên tử tự biết sẽ bị đầu thai vào loài Heo, rất lấy làm lo sợ liền thỉnh cầu Thiên vương cứu giúp, Thiên vương không cứu được nên khuyên Thiên tử nên đến cầu cứu Phật. Phật dạy Thiên tử quy y Tam Bảo, nên sau khi chết không đọa vào lòai Heo, mà còn được sanh làm người, gặp Xá Lợi Phất học đạo chứng đắc thánh quả.

3. Trong kinh Sát Cách Y Pháp Thiên Tử thọ Tam Quy có nói : Xưa có một vị thiên tử ở cõi trời Tam Thập Tam Thiên khi phước trời đã tận còn bảy ngày nữa sẽ chết, những sự hoan lạc, những thiên nữ đẹp không còn thân cận, những tướng mạo uy nghi đều đã thay đổi, mùi hôi bốc ra từ thân thể và thiên tử cũng biết rằng sẽ bị đầu thai vào lòai súc sinh, Thiên vương biết được liền dạy thiên tử phát tâm quy y Tam Bảo sau bảy ngày thiên tử vãng sanh, Thiên vương muốn biết thiên tử sanh vào đâu, nhưng không thể quán chiếu thấy được bèn đến hỏi Phật. Phật liền dạy rằng : “Thiên tử nhờ công đức quy y Tam Bảo đã được sanh lên cõi trời Đâu Suất”.

4. Kinh Hiệu Lượng Công Đức có nói : Nếu như có người xây Tháp cúng dường tất cả chư vị Thánh nhân chứng đắc nhị thừa trong Đông, Tây, Nam, Bắc tứ đại bộ châu, công đức tuy lớn nhưng vẫn không thể sánh bằng công đức quy y Tam Bảo.

5. Kinh Mộc Hoạn Tử có nói ngày xưa có vị Tỳ kheo Sa Đẩu chuyên tụng trì danh hiệu của Tam Bảo trong suốt mười năm, chứng đắc sơ quả Tu đà hòan, nay ở tại thế giới Phổ Hương làm vị Bích Chi Phật.

Phật cũng đã từng dạy, nếu người quy y Tam Bảo thì được tứ đại thiên vương, sai 36 vị thiện thần hộ trì, 36 vị thiện thần này còn có trăm ngàn vạn ức hà sa quyến thuộc cũng theo hộ trì người quy y Tam Bảo. Nhưng chúng ta cũng cần biết rằng, mặc dầu quy y Tam Bảo có thể cầu hiện thế bình an nhưng mục đích cuối cùng của việc quy y Tam Bảo vẫn là trở về và làm sống dậy tự tánh Tam Bảo trong mỗi người mới đúng là quy y Tam Bảo chân chánh vậy.

Thứ Năm, 21 tháng 2, 2013

      Sáng nay, ngày 21 tháng 02 năm 2013 (nhằm ngày 12/01/Quý Tỵ), Thầy Trụ Trì chùa Ba Vàng đã nhận lời thỉnh mời của các quý Phật tử, thiện nam tín nữ tại chùa Minh Châu đảo Tuần Châu thuộc Phường Tuần Châu, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh để làm lễ Cầu An đầu năm. Nhân buổi lễ cầu chúc an lành này, các thiện nam tín nữ đã thành tâm kính thỉnh Thầy truyền trao Tam Quy ngũ giới để được chính thức làm người con Phật. Thầy trụ trì đã hoan hỷ tác lễ truyền pháp Tam Quy và giảng rõ cho Phật tử về ý nghĩa Quy Y như thế nào, Tam Bảo là gì … Trong bài giảng, Thầy đã đưa ví dụ về Ngọc Hoàng Thượng Đế nhờ Quy Y Phật được thoát kiếp súc vật (Lừa) đã khiến thính chúng phát được tín tâm thanh tịnh đối với Tam Bảo. Sau đó, các quý Phật tử đã thấy được lợi ích và phúc báu của việc nguyện làm con Phật liền thành tâm phát nguyện trước sự chứng minh của Thầy và các chư Tăng tháp tùng. Từ đây, các Phật tử được nương tựa Tam Bảo và thực hành theo nhân quả trong ngũ giới để được an trú trong niềm hỷ lạc nội tâm. Sau đó Thầy cùng với các Phật tử đã trồng cây nhân dịp đầu xuân năm mới. Khi ra về, mỗi Phật tử đều được đón nhận phần quà Pháp thí từ Thầy Trụ trì là đĩa VCD Phép Lục Hoà do Thầy giảng, các Phật tử nguyện thực tập giáo Pháp một cách chân thật.













Thứ Tư, 20 tháng 2, 2013


    Hội xuân Yên Tử năm 2013 khai mạc vào mùng 9 tháng giêng năm Quý Tỵ (tức ngày 18-2), mở đầu mùa hội kéo dài 3 tháng ở vùng đất gắn với tên tuổi Phật hoàng Trần Nhân Tông.

Lễ hội Yên Tử năm 2013
    Không chỉ là địa danh tâm linh nổi tiếng, từ lâu Yên Tử còn là nơi làm tốt việc quản lý di tích, quản lý và sử dụng tiền công đức - điều hầu hết các di tích, danh thắng hiện rất lúng túng và cũng là vấn đề mà Bộ VH-TT-DL đang trăn trở tìm mô hình hiệu quả nhất. Dịp này, Báo SGGP đã trao đổi với Thượng tọa Thích Thanh Quyết, Ủy viên Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo (GHPG) Việt Nam, Trưởng ban Trị sự GHPG Quảng Ninh.
- Phóng viên: Yên Tử là một trong không nhiều nơi quản lý tốt tiền công đức và xã hội hóa công trình văn hóa, tâm linh, tín ngưỡng. Xin thượng tọa cho biết kinh nghiệm của mô hình này?
>> Thượng tọa THÍCH THANH QUYẾT: Việc xã hội hóa các công trình văn hóa, tâm linh rất có ý nghĩa, giúp có nhiều công trình xứng tầm phục vụ nhu cầu tín ngưỡng, nếu chúng ta biết sử dụng hài hòa, đúng mục đích số tiền công đức thu được. Theo tôi, không nên câu nệ việc giao cho nhà chùa hay chính quyền quản lý tiền công đức bởi nhà nước đang có chủ trương xã hội hóa. Yên Tử trước kia cũng như nhiều nơi khác, nhà nước quản lý thu chi gần 15 năm nhưng hiệu quả không cao, tiền công đức thu được không đủ chi. Chưa kể, nhiều phật tử muốn gửi tiền cúng dường cho các vị sư trụ trì. Phần lớn số tiền công đức nhà chùa thu được hàng năm, phục vụ công tác trùng tu di tích, các khóa lễ cầu quốc thái dân an, một phần tạo điều kiện sinh hoạt cho tăng ni.
Sau 6 năm thực hiện xã hội hóa ở Yên Tử, bằng nguồn vốn xã hội hóa, Ban Trị sự GHPG Quảng Ninh đã xây dựng chùa Đồng, chùa Bảo Sái, chùa Trình… trị giá gần 200 tỷ đồng. Trong đó, phải kể đến bức tượng đồng Phật hoàng Trần Nhân Tông trên đỉnh An Kỳ Sinh nặng 140 tấn được đúc với kinh phí trên 100 tỷ đồng. Từ kinh nghiệm này, theo tôi, chùa nào quản lý tốt thì nên để cho các vị sư trụ trì có uy tín quản lý tiền công đức, còn nhà nước giúp các vị sư trụ trì về mặt quy hoạch, Luật Di sản và quản lý chi tiêu đúng mục đích. Ở những nơi không có sư trụ trì hoặc các ngôi đền chỉ có các vị thủ từ thì nên thành lập ban quản lý (BQL) công đức.
- Năm qua đã xảy ra vi phạm di tích ở một số chùa như chùa Dơi (Sóc Trăng), chùa Trăm Gian (Hà Nội)… Là Ủy viên Hội đồng Trị sự Trung ương GHPG Việt Nam, theo thượng tọa, cần phải làm gì để quản lý tốt hơn các di tích?
Trên thực tế đã có nhiều di tích quốc gia bị xâm phạm mà chùa Trăm Gian và chùa Dơi là 2 nơi cụ thể. Theo tôi, nguyên nhân là do hệ thống quản lý các chùa lâu nay chưa có sự thống nhất, phối hợp tốt với các bộ, ngành. Một số vị sư quản lý di tích nhưng lại không có chuyên môn về Luật Di sản, quy hoạch, kiến trúc. Nhiều chùa còn không có cả BQL. Một số di tích xin nhà nước trùng tu, phải chờ kinh phí quá lâu, trong khi nhiều vị sư vận động được tiền công đức để trùng tu lại tiếp tục xin giấy phép rất vất vả, đi lại lòng vòng, nhiều thủ tục… Do vậy không tránh khỏi xảy ra sự việc đáng tiếc như ở chùa Trăm Gian. Nhưng về mặt giáo hội, GHPG cũng chỉ quản lý các tăng ni về hành chính đạo, không quản lý di tích nên giáo hội phải đứng ngoài cuộc.
Tuy nhiên, nếu cần, giáo hội vẫn sẽ có các ý kiến với các bộ, ngành, các nhà khoa học để có các cuộc hội thảo, nhằm quản lý tốt hơn các di tích văn hóa tâm linh. Còn vụ chùa Dơi cũng không thể trách các vị sư, vì nhà chùa chỉ quản lý di tích trong phạm vi ngôi chùa, còn quản lý về quy hoạch tổng thể là do nhà nước và các ban ngành.
- Quảng Ninh là điểm nóng của vấn nạn khai thác than thổ phỉ. Theo thượng tọa, cần sự phối hợp của BQL di tích và chính quyền địa phương ra sao, để không ảnh hưởng đến cảnh quan cũng như sự trường tồn của di tích, danh thắng Yên Tử?
GHPG Việt Nam rất lo, nếu không xử lý triệt để nạn khai thác than thổ phỉ thì hậu quả sẽ khôn lường với di tích quốc gia đặc biệt Yên Tử, dù Yên Tử chưa xảy ra rầm rộ nạn khai thác than thổ phỉ. Chúng ta đều biết, than khai thác thì sẽ hết còn giá trị của di tích Yên Tử thì muôn đời, càng khai thác càng có giá trị. Giá trị hữu hình, vô hình, vật thể, phi vật thể, đều có. Vì vậy, không thể cho khai thác than trong lòng Yên Tử, đồng thời phải cấm khai thác xung quanh Yên Tử ở bán kính hàng chục kilômét. Điều này đòi hỏi sự quan tâm của các Bộ VH-TT-DL, Bộ TN-MT, các cấp ngành, chính quyền tỉnh Quảng Ninh. Chúng ta phải tập trung trồng rừng, vừa tạo cảnh quan sinh thái, du lịch vừa bảo vệ môi trường, là điểm đến của du khách trong và ngoài nước.

Một tử tù biệt giam, bị xích chân, còng tay chờ ngày thi hành án vẫn ngày ngày tụng kinh niệm Phật. Sức mạnh của niềm tin và niềm hi vọng vào sự khoan hồng của pháp luật đã mang đến một phép màu.

Đại đức Thích Trúc Thái thỉnh chuông trên chùa Ba Vàng
 
Cuốn kinh Phật trong phòng biệt giam
    Phạm Xuân Cường (SN 1985, HKTT tại thị trấn Trới, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh) là tử tù mang tội giết người, phải nằm biệt giam ở Trại Tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh từ năm 2009.
    Bên cạnh phạm nhân đặc biệt này lúc nào cũng đặt một cuốn kinh Phật đã được đọc đi đọc lại đến thuộc làu. Trong buồng giam lạnh lẽo, Cường vẫn không nguôi hi vọng lá đơn xin tha tội chết của mình sẽ nhận được sự khoan hồng của Chủ tịch nước và cầu mong vào sự màu nhiệm.
    Tháng 1/2011, sau phán quyết của tòa phúc thẩm, tử tù Phạm Xuân Cường đã hơn một năm biệt giam. Dịp giáp Tết âm lịch, Đại đức Thích Trúc Thái Minh, trụ trì chùa Ba Vàng (thuộc phường Quang Trung, Tp Uông Bí) đến nói chuyện, thăm và tặng quà Tết cho một số phạm nhân tại Trại Tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh. Đại đức đặc biệt chú ý đến một phạm nhân còn rất trẻ, khuôn mặt khá sáng sủa nhưng lại bị còng cả hai chân và khóa cả hai tay.
    Khi thấy Đại đức, phạm nhân đã với tay lấy từ chỗ nằm ra một cuốn kinh Phật và xin được nhà sư chỉ dạy cách tụng niệm. Phạm nhân nói đây là cuốn kinh do em gái mang vào dặn dò ngày ngày tụng kinh niệm Phật và anh ta đã làm theo, nhưng nhiều chỗ đọc vẫn không hiểu nên xin Đại đức chỉ dạy. Phạm nhân đó chính là tử tù Phạm Xuân Cường. Ngay hôm đó Cường đã được Đại đức cảm kích cho quy y tam bảo và chỉ dẫn cách tụng niệm kinh Phật.
    Khi nhà sư chuẩn bị rời đi, bất giác, Phạm Xuân Cường òa khóc, phạm nhân còn hỏi với theo xin biết danh tính, nơi nhà sư trụ trì rồi nói: "Thầy ơi! Hoàn cảnh gia đình con tan nát hết rồi. Con ân hận lắm! Con còn một đứa em gái. Nó bơ vơ giữa đời. Thầy làm ơn, làm phúc cứu giúp em con...”, và nhà sư nhận lời.
     Một tuần sau, trong số rất đông du khách và Phật tử đến chùa đầu xuân, Đại đức Thích Trúc Thái Minh nhận thấy có một cô gái chừng ngoài 20 tuổi cứ nem nép như muốn nói điều gì. Nhà sư ôn tồn hỏi mới hay cô gái đó chính là em gái của tử tù đặc biệt lần trước. Từ đây gia cảnh tội nghiệp của hai anh em mới được giãi bày.
     Gia đình phạm nhân vốn khá giả nhờ người cha làm nghề sửa chữa xe ô tô vào loại giỏi ở thị trấn Trới. Trong cơ chế thị trường, gia đình làm ăn phát đạt, xây nhà cao, mua đất, mở rộng cơ sơ kinh doanh. Người mẹ làm nội trợ gia đình và giúp bố quản lý. Năm 2004, do mâu thuẫn lớn xảy ra, người cha không kìm được nóng giận đã đâm chết vợ rồi nhảy lầu toan tự vẫn. Nhưng cú nhảy từ lầu ba của ngôi nhà xuống đất chỉ làm ông sụm toàn bộ xương sống và chấn thương.
     Sau 8 tháng chữa trị, ra viện, người cha lĩnh án tù 14 năm; hai anh em Phạm Xuân Cường bỗng chốc trở thành côi cút, mẹ chết, cha đi tù. Cường tiếp tục công việc thay dầu rửa xe, nuôi mình và nuôi em ăn học, hết cấp 3 và Cao đẳng Sư phạm. Cô em gái ra trường xin dạy hợp đồng ở một trường tiểu học ở một xã vùng khó khăn nhất của huyện miền núi Hoành Bồ. Tháng 7/2009, Phạm Xuân Cường gây án mạng bị bắt giam. Cô em gái cũng không được dạy học nữa, hàng ngày phải quảy gánh hàng nước bán rong kiếm tiền tự nuôi mình và thỉnh thoảng đi thăm nuôi bố và anh.
     Nghe xong câu chuyện, Đại đức Thích Trúc Thái Minh se lòng, nhà sư phát tâm chở che cứu giúp cho hai anh em tử tù. Câu chuyện được nhà sư chia sẻ với một luật gia, vị luật gia đã nhận lời tìm cách nghiên cứu lại hồ sơ vụ án. Cùng thời gian đó, đơn xin ân giảm án tử hình cho Phạm Xuân Cường (khi ấy vẫn đang bị tạm giam) được đưa đến Văn phòng Chủ tịch nước, thời gian chưa thi hành bản án được kéo dài thêm. Mỗi một ngày tiếp nối là một ngày tử tù sống trong hi vọng và cũng là cơ hội để những người muốn cứu sống Phạm Xuân Cường tiếp tục hành trình "cứu sống tử tù”.

      Hành trình "cứu tử tù”
    Chưa đầy một năm tiếp theo nhưng là cả một chặng đường đằng đẵng đối với tử tù Phạm Xuân Cường. Chuỗi ngày chờ đợi phán quyết cuối cùng cho sự sống của mình dường như ngày càng nặng nề, phạm nhân đặc biệt vẫn không ngừng tụng kinh niệm Phật và hi vọng… Lại thêm một cái Tết, nhiều phạm nhân trong Trại Tạm giam đã được ân giảm án, không có tên Phạm Xuân Cường.
    Lần gặp người nhà trong chiều 30 Tết, Cường đã nghẹn ngào dặn sau khi thi hành án xin đưa cậu về nằm bên cạnh mộ của mẹ. Nhưng ở bên ngoài phòng giam, hành trình cứu sống tử tù vẫn không ngừng nghỉ. Những người trước đó hoàn toàn xa lạ với Cường nhưng nay đều dồn hết tâm huyết để giúp đỡ phạm nhân đặc biệt này. Toàn bộ hồ sơ vụ án được nghiên cứu lại, sự sống của phạm nhân vẫn đang chờ một sự định đoạt.
    Đúng ngày lễ khai hội xuân Yên Tử, một vị lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước đã có mặt trong ngày hội. Luật gia nọ đã cố gắng để tận tay gửi lá đơn đề nghị xem xét lại bản án của Phạm Xuân Cường kèm một số chứng cứ cốt yếu đến tay vị lãnh đạo. Lá đơn được xem ngay trước giờ khai hội ở giữa kinh đô Phật giáo. Và hành trình tiếp đó là sự đẩy đưa của những duyên do tưởng như rất tình cờ. Đại đức Thích Trúc Thái Minh cũng có lời thỉnh cầu và may mắn có dịp trình bày kỹ lưỡng vụ án và gia cảnh kẻ phạm tội với những người có trách nhiệm cao để xin xem xét lại trường hợp này.
   Trong phòng biệt giam, sự ăn năn hối cải của tử tù có lẽ đã được chiếu rọi, thử thách với niềm tin vào công lý đã được soi thấu. Sau hơn hai năm tính từ ngày bản án phúc thẩm tuyên, cuối năm 2012, Phạm Xuân Cường được nhận Quyết định giảm án từ mức tử hình xuống chung thân. Cường không khỏi bàng hoàng khi nghe cán bộ Trại tạm giam đọc Quyết định dù trước đó là bao ngày tháng chỉ sống trong chờ đợi.
    Cô em gái của Cường cũng được gặp nhiều người tốt giúp đỡ tạo công ăn việc làm để tiếp tục sống, thăm nuôi bố và anh trong tù. Khi người anh được giảm án cứu được sự sống, người em gái cũng gặp được chàng trai yêu thương mình và xây dựng gia đình.
   Đám cưới đơn sơ của cô gái đã được chính Đại đức Thích Trúc Thái Minh và những người có tấm lòng Phật tử làm lễ chúc phúc. Trong ngôi nhà đã từng xảy ra bao nhiêu chuyện đau lòng dẫn đến gia đình ly tán, một tổ ấm mới lại hình thành và sẽ là nơi chờ đợi những con người lầm lạc trở về sau thời gian trả án.
                                                                                     
                                                                                                       Theo Phương Nam – Chí Công
                                                                                                                     Pháp luật Việt Nam

Thứ Bảy, 16 tháng 2, 2013



.... Thật vậy, lòng từ bi bình đẳng của Đức Phật luôn lan tỏa đến cho muôn loài, đến tất cả mọi dạng sống trên trái đất, dù lớn hay nhỏ, ở gần hay ở xa, mắt thấy được hay không thấy được, đã sinh hay sắp sinh, như Ngài đã nói trong Kinh Từ Bi thuộc Kinh tạng Pali:... Khởi đi từ sự đản sinh của Đức Phật, một cuộc cách mạng tư tưởng cũng ra đờilà một vị thái tử, nhưng không bị những xa hoa vật chất nơi cung vàng điện ngọc cuốn, thái tử Tất Đạt Đa sớm tỉnh ngộ trước cảnh sinh, lão, bệnh, tử, triền miên của kiếp người. Vào năm hai mươi chín tuổi, một đêm kia, thái tử cùng với người đánh xe tên là Xa Nặc lìa bỏ kinh thành, quyết tâm lên đường tìm Chân Lý. Sáng hôm sau, thấy đã đi được một quãng đường khá xa, Ngài xuống xe, thay đổi y phục thái tử rồi trao cho Xa Nặc đem về, chỉ khoác lên mình một tấm vải vàng, ôm một bình bát, quyết quay lưng lại đời sống xa hoa, dư thừa vật chất, với người hầu kẻ hạ vây quanh, thái tử từ biệt Xa Nặc, dấn bước lên con đường gian nan phía trước. Trải qua sáu năm trời sống trong cảnh thiếu thốn, kham khổ, hành trì nhiều phương pháp tu với nhiều bậc thầy, nhưng Ngài đều không thỏa mãn, cứ đi hoài, tìm mãi. Cuối cùng, Ngài nhận ra rằng tất cả các bậc thầy đó đều chưa thoát ra khỏi được vòng vô minh. Từ nhận định đó, Ngài không còn trông cậy vào một bậc thày từ bên ngoài, ngưng tìm kiếm, mà một mình một bóng, tự quay vào soi rọi nội tâm. Cuộc chiến đấu để tự thắng bản thân của Ngài vô cùng cam go. Với niềm tin tưởng rằng nếu không sống cuộc đời khắc khổ thì sẽ không thể giải thoát, Ngài tự khép mình vào kỷ luật, sống khổ hạnh, trong cảnh cực kỳ gian nan, thiếu thốn, chỉ khoác trên mình một mảnh áo, chỉ ăn một chút hạt khô và rau cỏ, đến nỗi cơ thể Ngài vốn là một thái tử đẹp đẽ oai phong, nay chỉ còn lại lớp da bọc bộ xương. Thế nhưng sự hành hạ xác thân đó cũng không khiến cho Ngài thấy được Chân Lý. 
  • About